31.0 °C
Độ ẩm: 70 %
Sức gió: 9 km/h
Liến kết web  

chuyên mục xem nhiều  
KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT: 12043 Lượt
Lượt truy cập  
04/05/2019 09:32
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chính đến sinh trưởng rừng trồng 3 dòng bạch đàn (CT3, PN10, XTIV) và 2 dòng keo lai (KL20, KLTA3)

Năng suất rừng trồng trong những năm qua đã được nâng cao đáng kể nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật. Bên cạnh những giống mới bạch đàn và keo được chọn tạo, hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như làm đất, bón phân và mật độ trồng rừng phù hợp cũng đã được nghiên cứu nhằm từng bước hoàn thiện quy trình trồng rừng cho các giống mới đó, góp phần đưa năng suất, chất lượng rừng trồng lên cao nhất. Từ những năm 1990, phân bón đã được sử dụng phổ biến trong trồng rừng tại Việt Nam nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Do điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau giữa các vùng nên tuỳ vào loài cây trồng, đặc điểm của đất mà phân bón được sử dụng với liều lượng và chủng loại khác nhau. Các loại phân bón thông thường hiện đang được sử dụng là NPK, đạm, lân, vôi bột, phân chuồng và phân vi sinh. Một số nghiên cứu cho thấy áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng ở Bình Phước có thể tăng trữ lượng keo lai đến 84,21 % so với quảng canh.

 


Trong nghiên cứu về bón phân, ngoài chủng loại phân bón người ta còn quan tâm cả hàm lượng phân bón, trọng lượng phân bón lót và bón thúc. Nghiên cứu về liều lượng phân bón, Hà Ngọc Anh (2013) cho thấy tại Đoan Hùng, ở thời điểm 51 tháng tuổi công thức bón phân với sự kết hợp của 3 nhân tố N50-P50-K100 (50 kg N/ha - 50 kg P/ha - 100 kg K/ha; mật độ trồng rừng 1.333 cây/ha) đem lại kết quả sinh trưởng và chất lượng rừng tốt nhất, thể tích thân cây vượt đối chứng (không bón phân) 65%. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK-10.5.5 với 3 liều lượng khác nhau (400 g/cây, 600 g/cây, 1.000 g/cây) được bón theo từng giai đoạn từ năm thứ nhất đến năm thứ ba cho bạch đàn, Keo tai tượng và keo lai đã được thực hiện tại vùng nguyên liệu giấy Trung tâm, tại thời điểm 30 tháng tuổi, thể tích thân cây ở công thức được bón 1.000 g/cây vượt so với công thức 400 g/cây ở Bạch đàn PN14 là từ 35 - 51%, Bạch đàn PNCTIV từ 27 - 36%, Keo tai tượng từ 22 - 50%, Keo lai KL20 từ 14 - 40%, Keo lai BV10 từ 32 - 34%. Trong thời gian gần đây, thông qua công tác chọn tạo giống, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã được Bộ NN & PTNT công nhận một số giống tiến bộ kỹ thuật keo lai và bạch đàn, trong đó phải kể đến 3 dòng Bạch đàn (CT3, PN10, CTIV) và 2 dòng Keo lai (KL20, KLTA3). Đây là các giống mới, qua đánh giá tại các khảo nghiệm mở rộng đều cho năng suất, chất lượng rừng trồng cao và ổn định hơn so với các giống sản xuất đại trà hiện nay. 
Để rừng trồng phát huy tối đa khả năng của giống đã qua chọn lọc, đồng thời sớm đưa các giống tốt này đến với sản xuất, cần phải có hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để trồng rừng. Trong điều kiện đất trồng rừng đã qua kinh doanh nhiều luân kỳ nên bị thoái hóa, nghèo dinh dưỡng, càng cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phục vụ trồng rừng cho các giống mới, nhóm nghiên cứu do KS. Nguyễn Văn Chinh, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chính đến sinh trưởng rừng trồng 3 dòng bạch đàn (CT3, PN10, XTIV) và 2 dòng keo lai (KL20, KLTA3)”.
Đề tài này được thực hiện từ năm 2014 đến năm 2018. Trên cơ sở các thí nghiệm đã được thiết lập từ năm 2014-2016, trong năm 2017 đề tài thực hiện những nội dung sau: 
1. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, P, K đến sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn CTIV, với 10 công thức thí nghiệm và được lặp lại 04 lần; 
2. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, P, K đến sinh trưởng rừng trồng Keo lai KL20, với 10 công thức thí nghiệm và được lặp lại 04 lần; nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón N, P, K đến sinh trưởng rừng trồng Keo lai KLTA3, với 10 công thức thí nghiệm và được lặp lại 04 lần. 
Kết quả bước đầu cho thấy: Ở thời điểm 6 tháng tuổi, tỷ lệ sống rừng trồng Bạch đàn CTIV còn rất cao trên 98%. Về sinh trưởng, chưa thấy ảnh hưởng rõ ràng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn CTIV. Sinh trưởng D1.3 của các công thức thí nghiệm dao động từ 2,7 - 2,9 cm. Sinh trưởng Hvn của các công thức trong thí nghiệm khoảng 3,0 - 3,4 m. Cho đến thời điểm 6 tháng tuổi, sinh trưởng rừng trồng Keo lai KL20 ở các công thức bón phân không có sự sai khác. Tỷ lệ sống thời điểm này còn rất cao, dao động trong khoảng 93,9% - 98,3%. Sinh trưởng khá đồng đều, đường kính gốc D0.0 chỉ dao động trong khoảng 2,5 - 2,8 cm, Hvn dao động từ 2,0 - 2,1 m. 
Ở thời điểm 6 tháng tuổi, chưa thấy ảnh hưởng rõ ràng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng rừng trồng Keo lai KLTA3. Sinh trưởng đồng đều ở tất cả các công thức, đường kính gốc D0.0 dao động trong khoảng từ 2,5 - 2,8 cm, chiều cao Hvn dao động từ 2,0 -2,2 m. Tỷ lệ sống rất cao, đều đạt trên 99%.
Như vậy, nhóm nghiên cứu đề tài đã thực hiện đầy đủ theo thuyết minh nghiên cứu đã được phê duyệt về nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và hợp đồng đã kỹ kết. Cụ thể: Trồng được 4,0 ha rừng thí nghiệm, trong đó có 1,5 ha rừng trồng Bạch đàn CTIV, 1,3 ha rừng trồng Keo lai KL20 và 1,2 ha rừng trồng Keo lai KLTA3. Cho đến thời điểm 6 tháng tuổi, các công thức có liều lượng phân bón (N, P2O5, K2O) khác nhau chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn CTIV. Rừng trồng Keo lai KL20 tại thời điểm 6 tháng tuổi, chưa có sự sai khác về sinh trưởng giữa các công thức thí nghiệm có liều lượng phân bón (N, P2O5, K2O) khác nhau. Rừng trồng Keo lai KLTA3 tại thời điểm 6 tháng tuổi, các công thức có liều lượng liều lượng phân bón (N, P2O5, K2O) khác nhau chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng. 
Do nghiên cứu mới được thực hiện trong những năm đầu, rừng thí nghiệm còn ở giai đoạn non nên chưa phản ảnh hết được ảnh hưởng của phân bón và mật độ trồng đến sinh trưởng, chất lượng ở thời điểm hiện tại. Vì vậy, nhóm nghiên cứu mong muốn được tiếp tục theo dõi để có đánh giá đầy đủ. 
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 14762/2018) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

P.T.T (NASATI)

Trích nguồn "Cục Thông tin KH&CN Quốc gia"