27.6 °C
Độ ẩm: 86 %
Sức gió: 14 km/h
Liến kết web  

chuyên mục xem nhiều  
KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT: 11168 Lượt
Lượt truy cập  
26/09/2018 09:21
Nghiên cứu chọn giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ

Đề tài “Nghiên cứu chọn giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ” được thực hiện với mục tiêu nhằm xây dựng quần đàn ban đầu có tính biến dị di truyền cao phục vụ chọn giống dài hạn cá tra kháng bệnh gan thận mủ. Đã thu thập ba nhóm cá tự nhiên có nguồn gốc từ Campuchia, kết hợp với nhóm cá chọn giống theo tính trạng tăng trưởng sẵn để làm nguồn vật liệu ban đầu. Đã sử dụng 10 microsatellite nhằm đánh giá đa dạng di truyền của 4 nhóm cá này. Đa dạng di truyền giữa 4 nhóm cá là tương đối cao và giống nhau ở cả hai cấp độ của dị hợp tử và số allele. Không có sự khác biệt và phân ly di truyền giữa 4 nhóm. Khoảng cách di truyền giữa các nhóm là khá gần. Các nhóm cá đã thu thập có mức độ đa dạng di truyền cao và có thể sử dụng làm nguồn vật liệu cho chương trình chọn giống dài hạn. Đã sản xuất 177 gia đình và đánh dấu PIT cho đại diện của 177 gia đình này cho thí nghiệm cảm nhiễm chính và nuôi tăng trƣởng. Kết quả cảm nhiễm với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri cho tỉ lệ cá chết là 39%. Hệ số di truyền ước tính của tính trạng gan thận mủ trên cá tra giống là 0,37 ± 0,05. Tƣơng quan di truyền giữa tính trạng kháng bệnh gan thận mủ và tăng trƣởng là 0,26 ± 0,11, cho thấy khi cải thiện tính trạng kháng bệnh thì sẽ không có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Đã chọn lọc 830 cá thể thuộc 120 gia đình thuộc nhóm chọn lọc và 25 gia đình đối chứng để thành lập quần thể ban đầu G0. Hiệu quả chọn lọc ước tính trong thế hệ đầu tiên (G1) được ước tính là 8,3%.

 


Đề tài “Nghiên cứu chọn giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ”, thuộc Các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, do Cơ quan chủ trì Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài Trịnh Quốc Trọng để thực hiện nhằm mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng quần đàn ban đầu có tính biến dị di truyền cao phục vụ chọn giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ. Mục tiêu cụ thể là (1) đánh giá được biến dị các quần đàn phục vụ việc thành lập vật liệu chọn giống ban đầu; (2) ước tính được các thông số di truyền cơ bản tính trạng bệnh gan thận mủ, từ đó xây dựng phương pháp luận chọn giống cá tra kháng bệnh và (3) thành lập được quần thể ban đầu có biến dị di truyền cao cho chọn giống dài hạn.

Đề tài kế thừa nguồn vật liệu từ 3 đề tài Chọn giống cá tra nhằm tăng tỉ lệ philê bằng chọn lọc gia đình‘ (2006 - 2008), Đánh giá tính khả thi của việc chọn giống cá tra trên tính trạng kháng bệnh gan thận mủ‘ (2009) và Đánh giá hiệu quả chọn giống cá tra về tăng trưởng và tỉ lệ philê‘ (2010 – 2012). Nguồn vật liệu này gồm các đàn cá G2–2002, G2–2003 và G3–2001. Ngoài ra, nhằm đa dạng hóa biến dị di truyền của quần thể ban đầu, đề tài đã bổ sung thêm nhóm cá có nguồn gốc tự nhiên trên sông Mêkông bao gồm 2 nhóm ở tỉnh Đồng Tháp, 2 nhóm ở tỉnh An Giang và một nhóm ở Kratie (Campuchia).

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu thập 3 nhóm cá tự nhiên nguồn gốc từ Campuchia (TN1 = 270, TN2 = 200, TN3 = 200 con), kết hợp với nhóm cá chọn giống (450 con) theo tính trạng tăng trƣởng sẵn có làm vật liệu ban đầu.

Mười microsatellite chọn lọc cho khả năng phát hiện nhiều allele đồng hợp và dị hợp trên một locus, có thể sử dụng đánh giá đa dạng di truyền cá tra. Đa dạng di truyền giữa 4 nhóm cá là tương đối cao và giống nhau ở cả hai cấp độ của dị hợp tử và số allele. Không có sự khác biệt và phân ly di truyền giữa 4 nhóm. Khoảng cách di truyền giữa các nhóm là khá gần. Các nhóm cá đã thu thập có mức độ đa dạng di truyền cao và có thể sử dụng làm nguồn vật liệu cho chương trình chọn giống dài hạn.

Đã sản xuất 177 gia đình và đánh dấu PIT cho đại diện của 177 gia đình này cho thí nghiệm cảm nhiễm chính và nuôi tăng trưởng. Đã tìm ra chủng vi khuẩn Edwardsiella ictaluri có độc lực cao nhất và hoàn thiện quy trình cảm nhiễm. Tỉ lệ cá chết trong thí nghiệm cảm nhiễm là 39%. 

Ước tính hệ số di truyền của tính trạng gan thận mủ trên cá tra giống khác biệt có ý nghĩa so với zero. Hệ số di truyền ước tính cho tính trạng kháng bệnh gan thận mủ là 0,37 ± 0,05. Tương quan di truyền giữa tính trạng kháng bệnh gan thận mủ và tăng trưởng là 0,26 ± 0,11, cho thấy khi cải thiện tính trạng kháng bệnh thì sẽ không có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. 

Đã chọn lọc 831 cá thể thuộc 120 gia đình thuộc nhóm chọn lọc và 25 gia đình đối chứng để thành lập quần thể ban đầu G0. Hiệu quả chọn lọc ước tính trong thế hệ đầu tiên (G1) được ước tính là 8,3%.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 13760/2017) tại Cục Thông tin KHCNQG.

N.T.T (NASATI)

Trích nguồn "Cục Thông tin KH&CN quốc gia"