Hỏi - Đáp

Trả lời: Bệnh ghẻ chứ có phải bệnh AIDS hay bệnh ung thư đâu mà em phải bi quan thế!
Trả lời: Trẻ sơ sinh do nhãn cầu nhỏ, vùng đốm vàng ở võng mạc phát triển chưa hoàn thiện và tính nhịp nhàng của cơ mắt khá kém. Tuy mẫn cảm với ánh sáng, gặp phải ánh sáng mạnh có thể nhắm mắt, nhưng thị giác không nhạy bén, khoảng cách xa nhất có thể thấy được là 60cm, thị giác rõ nhất trong phạm vi 20 – 30cm. Đây chính là độ dài khoảng cách với ánh mắt của người mẹ nằm trong lòng mẹ hay khi cho bú, làm cho mẹ và trẻ mặt đối mặt, mắt đối mắt vừa thích hợp, cũng làm cho trẻ vừa nhìn thấy mặt mẹ thì có thể hướng theo những chuyển động trên mặt mẹ. Đây chính là sự huyền bí của việc chọn lựa tự nhiên. Khả năng thị giác này của trẻ rất quan trọng đối với việc tăng thêm tình cảm mẹ con, cùng với quá trình phát triển hệ thống thần kinh của trẻ. Trẻ sơ sinh trong trạng thái tỉnh táo và yên tĩnh có thể nhìn chăm chú trong thời gian ngắn và hướng theo những vật thể di động chậm gần đó. Có thể xuất hiện cách nhìn nghiêng nhất thời và rung nhãn cầu, trong 3 – 4 tuần thì tự động biến mất. Bắt đầu từ tháng thứ hai có thể nhìn chăm chú vào vật thể một cách nhịp nhàng, và di động theo vật trong phạm vi 90o vuông góc với phía trước, bước đầu có sự nhịp nhàng của ánh mắt đầu tiên. Khi ba tháng thì sự nhịp nhàng của ánh mắt đầu tiên khá tốt, có thể di động 180o theo vật, có thể thấy vật thể có đường kính 8mm. Đến 3 – 4 tháng bắt đầu xem tay của mình. Khi 4 – 5 tháng xuất hiện động tác tay mắt nhịp nhàng, đi theo vật thể rơi xuống, bắt đầu biết người mẹ và những vật phẩm thường thấy như bình sữa, thích màu đỏ. Đến 1 – 1,5 tuổi nhìn chăm chú vào đồ chơi nhỏ ở cách xa 3m, có thể phân biệt hình dạng, thích xem hình vẽ. Đến 1,5 – 2 tuổi chức năng nhịp nhàng của hai mắt khá tốt. Từ 2 – 3 tuổi có thể nhìn chăm chú vào vật thể nhỏ và tranh đến 50 giây, phân biệt đường thẳng đứng và đường ngang. Trẻ 5 tuổi có thể phân biệt được màu sắc. Dùng đồng hồ đo thị lực kiểm tra, nếu kém hai hàng so với tiêu chuẩn bình thường, nên tiến hành kiểm tra mắt thêm.
Trả lời: Hỏi: trong bài văn phát biểu về “liệu pháp của hán phương trị chứng nam giới vô sinh”, đã đề cập tới ban hồ phong (ong bò vẽ), loại qui phong (ong rùa) ở miền đông bắc nhật bản có phải cùng giống với ong bò vẽ không?
Trả lời: Tiến trình trao đổi khí giữa một các thể và môi trường. Điều này bao gồm cả ngoại hô hấp bao gồm sự thở, trong đó oxy được nhận vào các mao mạch ở phế mang và carbon dioxide được phopngs thích ra khỏi máu, và nội hô hấp, trong đó oxy được phóng tích cho các mô và carbon dioxide được hấp thụ vào máu. Máu là môi trường chuyên trở các khí giữa phổi và các tế bào mô. Thêm vào đó máu còn chứa một sắc tố hemoglobin có ái lực đặc biệt với oxy. Một khi đã vào trong tế bào, oxy được dùng trong các tiến trinh chuyển hoá dẫn đến việc sản sinh năng lượng(xem APT), nước và các chất thải (gồm cả carbon dioxide).
Trả lời: Cảm mạo, bao gồm cảm mạo thông thường và dịch cúm.
Trả lời: Điều trị hen suyễn có thể được chia thành 5 giai đọan, bao gồm:
Trả lời: Người mắc chứng axit uric trong máu cao mạn tính do muối axit uric lắng đọng ở thận nên có thể phát sinh sỏi đường tiết niệu. Ở Mỹ kết sỏi axit uric chiếm khoảng 10% số ca kết sỏi toàn bộ đường tiết niệu. Trong tất cả những người bị thống phong có khoảng 20% bị kết sỏi đường tiết niệu. Khi kéo dài theo kết sỏi, có thể còn có đau lưng, đi tiểu ra máu, có biểu hiện nhiễm trùng đường tiết niệu mạn tính trong thời gian dài, điều trị có lúc tốt có lúc xấu. Những người bệnh có lịch sử nước tiểu kết tinh vẫn đục hoặc đi tiểu ra sỏi, thậm chí suy thoái chức năng thận, gây ra hậu quả không tốt, nếu bị thống phong sẽ rất dễ dẫn đến tử vong.
Trả lời: Đây là vấn đề có rất nhiều người mẹ quan tâm. Quan điểm hiện nay là một lần dùng hai bên, căn cứ là: Trong cùng thời gian thì trẻ có thể bú nhiều sữa. Bởi vì mút vú mỗi bên trong năm phút đầu có thể bú phần lớn sữa trong vú, sau năm phút lại bú một bên khác, kết quả là trong khoảng 10 phút, trẻ nhỏ sẽ bú một lượng sữa rất lớn, trẻ nhanh no, không mệt mỏi. Theo quan niệm cũ, thì phần lớn cho rằng sau khi trẻ bú sạch một bên thì mới bú tiếp vú bên kia, vì vú rỗng thì lượng sữa sản sinh của nó mới có thể nhiều, hơn nữa cho rằng phần sữa còn lại trong vú có hàm lượng lipid và nhiệt lượng cao. Do đó, một lần nên cho trẻ bú sạch một bên sữa. Thật ra, cách nhìn này có tính hạn chế nhất định, làm như vậy rất có thể làm cho trẻ nhỏ dễ mệt mỏi mà không mút hết sức, ngược lại thì lượng sữa và nhiệt lượng mà trẻ ăn vào sẽ không cao. Hơn nữa, cách bú này cũng bất lợi đối với việc sản sinh sữa, một bên vú chưa cho bú, thì áp lực trong khoang tuyến vú nhất định sẽ cao, nó làm cho khả năng tiết sữa thấp, và vú trở nên rỗng trên thực tế là điều không thể. Còn cho rằng hàm lượng lipid trong phần sữa còn lại là cao, chỉ là cách nhìn riêng của một số học giả, chưa được công nhận. Từ đó, có thể nói, mỗi lần cho bú thì nên bú sữa của hai bên thì khá tốt.
Trả lời: Một số sản phụ khi trở dạ, do quá trình sinh đẻ khó khăn, bác sĩ thường quyết định dùng cách cắt tầng sinh môn. Nhưng sản phụ thường lo lắng và sợ rằng sau khi phẫu thuật sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống tình dục sau này. Trên thực tế thì sự lo lắng này là không cần thiết.
Trả lời: Mùi vị ngửi được là nhờ vào các tế bào khứu giác ở bên trong lỗ mũi. Những tế bào này nằm trên niêm mạc mũi của đỉnh xoang mũi. Trong tình trạng bình thường mùi vị bay vào xoang mũi, kích thích các tế bào khứu giác, con người liền biết được mùi gì ngay. Khi người đã mắc phải bệnh cảm mạo các vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong khoang mũi sẽ bị sưng huyết sưng phồng lên, có khi còn bịt chặt lỗ mũi hơi không ra được, mùi vị mà mũi ngửi được liền bị giảm đi. Vả lại sau khi niêm mạc mũi bị xung huyết sưng phồng, nước mũi cũng nhiều lên, số nước mũi này phủ lên niêm mạc mũi, giống như phủ lên một lớp thảm, ngăn cản sự kích thích của mùi vị đối với tế bào khứu giác. Cho nên, người bị cảm mạo thì không ngửi được mùi nữa.
Trả lời: Cột sống của động vật có xương sống. Ở phần lớn động vật có vú gồm 26 xương nhỏ gọi là đốt sống, bao phủ và bảo vệ dây cột sống (nối tất cả các dây thần kinh ngoại biên với não bộ). Xương sống nối với hộp sọ, xương sườn, cơ lưng.
Trả lời: Còn gọi là tiêu lốt, tiêu hoa tím. Morech ton sai (cămpuchia).
Trả lời: Lao niệu sinh dục cũng như lao phổi là bệnh khá phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại khoa bộ môn niệu Bệnh viện Bình Dân (1985) so với những thập niên về trước, lao niệu sinh sục có giảm, nhưng vẫn chiếm tỉ lệ 2% trong tổng số bệnh nhân được điều trị. Tại Hoa Kì, số người bị lao niệu sinh dục là 1.000 người mỗi năm (Resnick, 1989).
Trả lời: Nguyên nhân nguy hiểm của bệnh tim mạch vành là dễ dàng mắc bệnh và phát bệnh. Có thể chia thành hai loại lớn là có thể chuyển biến đổi được là trường hợp các bệnh nhân thuộc diện cao tuổi, theo giới tính, và có tiền sử gia đình từng mắc bệnh. Ví dục: tuổi càng cao, tỉ lệ phát bệnh tim càng lớn, những người gần độ tuổi trung niên có tỉ lệ mắc bệnh và mức độ nguy hiểm tăng 4 lần so với bình thường. Nữ giới, do có sự bảo vệ của kích tố nữ tính, nên với cùng độ tuổi, khả năng mắc bệnh tim mạch vành chỉ bằng nửa so với nam giới.