Kỹ Thuật Trồng Trọt

3 giống sắn bản địa năng suất, chất lượng nổi trội

17/06/2026

Dựa trên 200 giống sắn bản địa, các nhà khoa học đã chọn ra 3 giống nổi trội về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu đại diện cho Bắc, Trung, Nam.

Giống lai lấn át giống bản địa

Việt Nam là nước đứng thứ 9 về diện tích trồng sắn, thứ 7 về sản lượng sắn trên thế giới với diện tích khoảng 530.000ha, sản lượng khoảng 10,4 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 - 1,3 tỷ USD/năm.

Tuy nhiên hầu hết các vùng trồng sắn hiện nay chỉ tập trung vào giống lai cao sản mà thờ ơ với giống sắn bản địa. Thạc sĩ Đàm Thị Thu Hà (Bộ môn Đa dạng sinh học nông nghiệp, Trung tâm Tài Nguyên Thực vật - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), Chủ nhiệm “Nhiệm vụ nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền và phát triển bền vững nguồn gen sắn địa phương Việt Nam” thuộc Chương trình Bảo tồn và Sử dụng bền vững nguồn gen cho biết, mục tiêu chung của Nhiệm vụ là đánh giá tiềm năng di truyền và xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về các đặc điểm nông sinh học (sinh trưởng, năng suất, chất lượng, chịu hạn, kháng virus gây bệnh khảm lá và các đặc trưng phân tử...) của các nguồn gen sắn địa phương Việt Nam. Xác định một số chỉ thị phân tử liên kết đến tính chống chịu virus gây bệnh khảm lá. Phát triển được ít nhất 3 nguồn gen sắn địa phương Việt Nam có khả năng chịu hạn/chống chịu virus gây bệnh khảm lá.

Nghiên cứu một giống sắn địa phương. Ảnh: TTTNTV.

Nghiên cứu một giống sắn địa phương. Ảnh: TTTNTV.

Mục tiêu cụ thể là thu thập bổ sung mới được ít nhất 50 mẫu giống và bảo tồn, lưu giữ được 200 mẫu giống nguồn gen sắn tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia. Đánh giá đặc điểm nông sinh học (sinh trưởng, năng suất, chất lượng, chịu hạn, chống chịu virus gây bệnh khảm lá) của ít nhất 200 mẫu giống nguồn gen sắn. Đánh giá được đa dạng di truyền của ít nhất 200 mẫu giống nguồn gen sắn và sàng lọc, xác định được chỉ thị phân tử liên kết với tính chống chịu virus gây bệnh khảm lá ở sắn. Lựa chọn và giới thiệu được 3 giống sắn có đặc điểm nông sinh học tốt (sinh trưởng, năng suất, chất lượng, chịu hạn và chống chịu virus gây bệnh khảm lá) cho sản xuất tại ba vùng sinh thái thuộc miền Bắc, Trung, Nam và xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho 3 giống sắn đã được lựa chọn phát triển.

Theo Thạc sĩ Hà, ưu điểm của các giống sắn bản địa là chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu ăn tươi hoặc làm bánh, tuy nhiên năng suất và nhất là đầu ra sản phẩm còn hạn chế. Trung tâm Tài nguyên Thực vật hiện lưu giữ nhiều giống sắn trên đồng ruộng, hàng năm thu hoạch lấy hom để giống cho vụ sau. Nhưng khi làm mô hình lưu giữ giống sắn này người dân thường không thích dù được hỗ trợ phân, giống bởi nếu họ trồng giống sắn cao sản, năng suất cao thì có nhà máy thu mua tận nơi, còn trồng sắn bản địa phải tự tìm đầu ra, giá bán có cao hơn nhưng để tiêu thụ cả chục tấn một lúc thì khó.  

Ngoài 150 mẫu giống sắn đang được lưu giữ tại Ngân hàng gen đồng ruộng thuộc Trung tâm Tài nguyên Thực vật, các nhà khoa học đã tiến hành thu thập tại 3 miền Bắc, Trung, Nam được 50 mẫu giống sắn. Chúng đều tồn tại ở địa phương trên 10 năm, xu hướng diện tích ngày càng giảm và có mẫu giống có nguy cơ bị loại bỏ như sắn Nùng (Thượng Nhật – Nam Đông – Thừa Thiên Huế), sắn Ba Trăng (Hương Xuân – Nam Đông – Thừa Thiên Huế), sắn đỏ (Mường Tong – Mường Nhé – Điện Biên)...

Màu sắc củ sau luộc của phần lớn giống sắn địa phương là trắng hoặc trắng đục, xơ trung bình 46%, không dẻo 68,5%, bở trung bình 19%, hơi bở 18%, không bở 13%, rất bở 21% và cao nhất là mức bở 29%. Về chỉ tiêu liên quan đến hương vị, đa số đều không đắng (chiếm 44,5%), trong khi đó khá ngọt 24,5%, ngọt trung bình 21,5%, hơi ngọt 23%, rất ngọt 11% và không ngọt 19,5%.

Các nhà khoa học thử nếm chất lượng sắn địa phương. Ảnh: TTTNTV.

Các nhà khoa học thử nếm chất lượng sắn địa phương. Ảnh: TTTNTV.

Những giống sắn xuất sắc nhất

Kết quả, các nhà khoa học đã lựa chọn được 3 giống sắn địa phương có triển vọng cho sản xuất ở 3 miền. Cụ thể, từ tập đoàn 90 mẫu giống sắn thu thập tại miền Bắc, dựa trên các tiêu chí năng suất củ tươi đạt trên 25 tấn/ha, hàm lượng HCN <50 mg/kg, hàm lượng đường > 2g/100g, hàm lượng tinh bột >25g/100g, hàm lượng chất khô >30g/100g, ban đầu đã chọn lọc được 2 mẫu giống gồm sắn đỏ Trung Quốc và sắn lá tre Yên Bái.

Khi kết hợp thêm tiêu chí khả năng chịu hạn và khả năng kháng bệnh khảm lá sắn, nhận thấy giống sắn lá tre Yên Bái có khả năng chịu hạn tốt hơn so với giống sắn đỏ Trung Quốc. Ngoài ra, về chỉ tiêu chất lượng thử nếm, giống sắn lá tre Yên Bái có nhiều ưu điểm hơn như không xơ, sắn bở và có vị rất ngọt. Với những ưu điểm ấy, các nhà khoa học quyết định chọn giống sắn này để tiến hành xây dựng biện pháp kĩ thuật cho vùng trồng sắn tại miền Bắc.

Sắn nếp. Ảnh: TTTNTV.

Sắn nếp. Ảnh: TTTNTV.

Từ tập đoàn 59 mẫu giống sắn có nguồn gốc miền Trung, theo tiêu chí năng suất từ 25 tấn/ha, hàm lượng HCN < 50 mg/kg, hàm lượng đường > 2g/100g, hàm lượng tinh bột >25g/100g, hàm lượng chất khô >30g/100g, đã chọn được 4 mẫu giống.

Khi xem xét khả năng chịu hạn ở mức độ chịu hạn nặng và khả năng kháng bệnh khảm lá ở mức độ 2 - 3, nghiên cứu đã xác định được mẫu giống sắn nếp Huế để phát triển đưa vào sản xuất. Mẫu giống sắn nếp Huế được đánh giá có chất lượng thử nếm tốt như không xơ, bở và có vị rất ngọt.

Từ tập đoàn mẫu giống sắn có nguồn gốc miền Nam gồm 49 mẫu giống, theo tiêu chí năng suất củ tươi trên 25 tấn/ha, hàm lượng HCN <50 mg/kg, hàm lượng đường > 2g/100g, hàm lượng tinh bột >25g/100g, hàm lượng chất khô >30g/100g, đã xác định được 2 mẫu giống gồm sắn Ấn Độ và sắn lõi vàng Tiền Giang.

Xem xét tiêu chí khả năng chịu hạn và khả năng kháng bệnh khảm lá, nhận thấy khả năng kháng bệnh khảm lá của mẫu giống sắn lõi vàng tốt hơn mẫu giống còn lại. Ngoài ra, mẫu giống sắn lõi vàng Tiền Giang cũng có chất lượng thử nếm tốt hơn như không xơ, bở, không đắng và rất ngọt nên đã được chọn.

Sắn lõi vàng. Ảnh: TTTNTV.

Sắn lõi vàng. Ảnh: TTTNTV.

Cũng qua nhiệm vụ khoa học trên, các nhà nghiên cứu đã thống kê năng suất của tập đoàn 200 mẫu giống sắn bản địa có năng suất dao động từ 1,5 - 41 tấn/ha, đạt trung bình 17,2 tấn/ha. Đã xác định được 27 mẫu giống đạt năng suất trên 30 tấn/ha, đây là các giống có tiềm năng có thể giới thiệu để chọn lọc và phát triển. 72,5% mẫu giống có hàm lượng tinh bột cao (trên 25g/100g), đạt chuẩn làm nguyên liệu chế biến. Đặc biệt, hàm lượng cyanua (HCN) dao động từ 0,45 - 248mg/kg, trung bình đạt 17,57mg/kg, trong đó 93% mẫu giống có hàm lượng HCN dưới 50mg/kg.

Nghiên cứu đã xác định được 65 mẫu giống có khả năng chịu hạn ở điều kiện độ ẩm đạt 35±5%, trong đó có 4 giống duy trì sinh trưởng và phát triển tốt nhất là sắn lá tre, sắn đỏ, mỳ đỏ Sống Ray 1 và sắn đỏ miền Nam. Có 91% mẫu giống biểu hiện mức độ bệnh khảm lá từ điểm 3 đến điểm 5. Số mẫu giống đạt điểm 1 và 2 chiếm 9% tổng số mẫu giống nghiên cứu, tương đương 18 mẫu giống.

Dương Đình Tường

Trích nguồn "Báo Nông nghiệp và Môi trường"

https://nongnghiepmoitruong.vn/3-giong-san-ban-dia-nang-suat-chat-luong-noi-troi-d810626.html


Tin cùng chuyên mục