Trong bối cảnh ngành lúa gạo đang chịu sức ép ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, chi phí đầu vào leo thang và yêu cầu khắt khe của thị trường tiêu thụ, câu chuyện liên kết trong sản xuất không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.
Hội thảo liên kết, trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân trồng lúa được tổ chức vào ngày 8/1, tại UBND xã Thường Tân, TP.HCM đã đặt ra nhiều vấn đề cốt lõi, đồng thời gợi mở những giải pháp mang tính dài hạn cho sản xuất lúa gạo địa phương.
Toàn cảnh hội thảo liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân trồng lúa tổ chức tại hội trường UBND xã Thường Tân, TP.HCM. Ảnh: Trần Phi.
Nền tảng từ tổ chức
Theo báo cáo của Phòng Kinh tế, toàn xã hiện có khoảng 900 ha đất trồng lúa, năng suất bình quân gần 44 tạ/ha. Dù không phải vùng chuyên canh lớn, nhưng cây lúa vẫn giữ vai trò quan trọng trong sinh kế của nhiều hộ dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sản xuất lúa hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào quy mô hộ nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết chặt chẽ, khiến người nông dân dễ rơi vào thế bị động trước biến động thị trường.
Không ít vụ lúa, nông dân phải đối mặt với tình trạng “được mùa nhưng mất giá”, trong khi chi phí vật tư, nhân công, xăng dầu ngày càng tăng. Đây chính là điểm nghẽn lớn nhất mà hội thảo lần này tập trung bàn thảo, làm sao để tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, giảm rủi ro cho người trồng lúa và nâng cao giá trị hạt gạo.
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất, ông Trịnh Minh Thành, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Thuận Phát cho rằng, muốn liên kết hiệu quả thì trước hết phải tổ chức lại nông dân. “Nếu nông dân vẫn sản xuất riêng lẻ thì rất khó nói đến liên kết. Hợp tác xã là nền tảng để thống nhất quy trình, kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho doanh nghiệp”, ông Thành nhấn mạnh.
Đại diện chính quyền địa phương, nông dân, nhà khoa học và doanh nghiệp phát biểu, trao đổi tại hội thảo, thể hiện sự gắn kết của “4 nhà” trong phát triển sản xuất lúa theo hướng bền vững. Ảnh: Trần Phi.
Theo ông Thành, hợp tác xã không chỉ là nơi tập hợp nông dân mà còn là “đầu mối kỹ thuật”, giúp chuyển giao tiến bộ khoa học, xây dựng vùng nguyên liệu và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường. Tuy nhiên, để hợp tác xã phát huy vai trò, rất cần sự hỗ trợ đồng bộ về vốn, cơ chế và đào tạo quản trị.
Đồng quan điểm, ông Huỳnh Tấn Lợi – Chủ tịch Hội Nông dân xã cho rằng, thay đổi tư duy sản xuất của nông dân là quá trình không dễ dàng, đòi hỏi sự kiên trì. “Nông dân quen làm theo kinh nghiệm. Khi nói đến tiêu chuẩn, quy trình hay nhật ký sản xuất, nhiều người còn e ngại. Nhưng nếu không thay đổi thì rất khó tiếp cận thị trường lớn”, ông Lợi chia sẻ.
Thời gian qua, Hội Nông dân đã đóng vai trò cầu nối, vừa tuyên truyền, vừa trực tiếp hướng dẫn nông dân sử dụng chế phẩm sinh học, giảm phân thuốc hóa học, tiến tới sản xuất an toàn, bền vững.
Giải pháp từ liên kết
Chia sẻ về chuyên môn kỹ thuật trồng lúa, ông Trương Quốc Ánh, Phó Trưởng Bộ môn Công nghệ sinh học, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam cho rằng, liên kết chỉ thực sự hiệu quả khi gắn với khoa học, công nghệ. “Ứng dụng cơ giới hóa, tưới ngập, khô xen kẽ, quản lý dịch hại thông minh và sử dụng chế phẩm sinh học không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao chất lượng hạt gạo”, ông Ánh phân tích.
Theo ông Ánh, trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và an toàn thực phẩm, sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, tuần hoàn và giảm phát thải sẽ là xu hướng không thể đảo ngược.
Nông dân địa phương kiểm tra sinh trưởng cây lúa trên đồng ruộng, thể hiện hiệu quả canh tác và niềm tin vào sản xuất bền vững. Ảnh: Trần Phi.
Ông Trần Hải Dân, đại diện Công ty Cổ phần Việt Nam Food (VNF) thẳng thắn cho biết, VNF luôn hướng tới phát triển bền vững và mở rộng chuỗi giá trị từ sản phẩm đồng hành của tôm thành nguyên liệu sinh học phụ vụ đa ngành. “VNF tiên phong ứng dụng công nghệ sinh học để biến phụ phẩm tôm thành nguyên liệu giá trị cao, thân thiện môi trường. Tuy nhiên việc mang lại những giải pháp này tới người nông dân còn hạn chế, cần sự hỗ trợ của các cấp ban ngành”, ông Dân nói.
Đại diện doanh nghiệp kỳ vọng chính quyền địa phương sẽ đồng hành trong việc kết nối, tạo điều kiện để xây dựng chiến lược cung ứng nguyên liệu, qua đó tăng tính bền vững chuỗi liên kết giữa nông dân và các đối tác nông nghiệp.
Với người nông dân, liên kết mang ý nghĩa rất thực tế. Ông Nguyễn Văn Cơ, nông dân trồng lúa tại xã Thường Tân, chia sẻ: “Điều chúng tôi lo nhất là đầu ra. Khi có doanh nghiệp thu mua và được hướng dẫn kỹ thuật, nông dân yên tâm hơn, không phải chạy theo thương lái từng vụ”, ông Thuận nói.
Ông Võ Anh Thắm, Phó Chủ tịch UBND xã Thường Tân phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Trần Phi.
Phát biểu kết luận hội thảo, ông Võ Anh Thắm, Phó Chủ tịch UBND xã Thường Tân cho biết, địa phương xác định liên kết bốn nhà là hướng đi lâu dài, không mang tính phong trào. “Chính quyền sẽ đóng vai trò cầu nối, tạo điều kiện về hạ tầng, kỹ thuật và cơ chế để các bên cùng tham gia. Liên kết phải đi vào thực chất, có trách nhiệm và lợi ích hài hòa”, ông Thắm nhấn mạnh.
Theo ông Thắm, với sự chung tay của Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân, sản xuất lúa gạo địa phương hoàn toàn có cơ hội chuyển từ “sản xuất nhiều” sang “sản xuất hiệu quả”, nâng cao giá trị hạt lúa và thu nhập cho người dân một cách bền vững.
“Liên kết bốn nhà không chỉ nhằm ổn định đầu ra và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa, mà còn hướng tới mục tiêu sản xuất thân thiện với môi trường. Khi quy trình canh tác giảm phân thuốc hóa học, tiết kiệm nước, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng, hạt lúa sẽ mang giá trị kinh tế gắn với trách nhiệm môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững lâu dài”, ông Võ Anh Thắm kết luận.